Đầu tư ra nước ngoài đang trở thành xu hướng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhằm mở rộng thị trường, tìm kiếm cơ hội kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khi dự án đầu tư ở nước ngoài bắt đầu phát sinh lợi nhuận, một trong những vấn đề được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm là việc sử dụng và chuyển lợi nhuận về Việt Nam. Trên thực tế, không ít doanh nghiệp băn khoăn liệu lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư ở nước ngoài có bắt buộc phải chuyển về Việt Nam hay không, thời hạn chuyển lợi nhuận được quy định như thế nào và trong trường hợp nào được phép giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư. Việc không nắm rõ các quy định pháp luật có thể dẫn đến những rủi ro liên quan đến quản lý ngoại hối, đầu tư ra nước ngoài và nghĩa vụ báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy theo quy định pháp luật hiện hành, lợi nhuận từ dự án đầu tư ra nước ngoài có bắt buộc phải chuyển về Việt Nam hay không? Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết những quy định mới nhất mà nhà đầu tư cần biết.
1. Nhà đầu tư có phải chuyển lợi nhuận dự án đầu tư ra nước ngoài về Việt Nam hay không?
Theo quy định hiện nay thì nhà đầu tư phải chuyển lợi nhuận dự án đầu tư ra nước ngoài về Việt Nam, tuy nhiên có một số trường hợp nhà đầu tư được phép giữ lại lợi nhuận thu từ đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư.
Cụ thể, tại Điều 33 Nghị định 103/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 03/04/2026, quy định về việc sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài như sau:
“Điều 33: Sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài
1. Nhà đầu tư được giữ lại lợi nhuận thu từ đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư trong trường hợp sau đây:
a) Tiếp tục góp vốn đầu tư ở nước ngoài trong trường hợp chưa góp đủ vốn theo đăng ký;
b) Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài;
c) Thực hiện dự án đầu tư mới ở nước ngoài.
2. Nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này; thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.”
Theo đó, trong 03 trường hợp sau đây thì nhà đầu tư được giữ lại lợi nhuận thu từ đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư, không bắt buộc phải chuyển lợi nhuận dự án đầu tư ra nước ngoài về Việt Nam:
– Tiếp tục góp vốn đầu tư ở nước ngoài trong trường hợp chưa góp đủ vốn theo đăng ký;
– Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài;
– Thực hiện dự án đầu tư mới ở nước ngoài.
2. Thời hạn để nhà đầu tư chuyển lợi nhuận dự án đầu tư ra nước ngoài về Việt Nam là bao lâu?
Căn cứ vào Điều 34 Nghị định 103/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 03/04/2026, quy định về chuyển lợi nhuận về nước như sau:
“Điều 34: Chuyển lợi nhuận về nước
1. Trừ trường hợp giữ lại lợi nhuận theo quy định tại Điều 33 của Nghị định này, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được chia lợi nhuận, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài về Việt Nam.
2. Nhà đầu tư được sử dụng phần lợi nhuận được chia để hoán đổi nghĩa vụ phát sinh tại nước ngoài với đối tác đang có hoạt động tại Việt Nam. Việc thực hiện hoán đổi phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Đã thực hiện báo cáo với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính theo quy định;
b) Tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, đầu tư và pháp luật có liên quan;
c) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế phát sinh tại Việt Nam đối với giao dịch hoán đổi theo quy định của pháp luật về thuế, bao gồm nghĩa vụ thuế của nhà đầu tư và của đối tác nước ngoài (nếu có);
d) Không được sử dụng giao dịch hoán đổi để trốn thuế, tránh thuế hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, ngoại hối và pháp luật có liên quan.
3. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà không chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập khác về Việt Nam thì nhà đầu tư phải thông báo trước bằng văn bản cho Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thời hạn chuyển lợi nhuận về nước được kéo dài không quá 12 tháng kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa chuyển lợi nhuận về nước và không thông báo hoặc trường hợp quá thời hạn được kéo dài quy định tại khoản 3 Điều này mà nhà đầu tư chưa chuyển lợi nhuận về nước thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, trừ những trường hợp được giữ lại lợi nhuận thu từ đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư thì trong vòng 12 tháng kể từ ngày được chia lợi nhuận, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài về Việt Nam.
Nếu như trong thời hạn nêu trên mà nhà đầu tư không chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập khác về Việt Nam thì phải thông báo trước bằng văn bản cho Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để được kéo dài thời hạn thêm 12 tháng.
Trường hợp hết thời hạn chuyển lợi nhuận về nước mà nhà đầu tư vẫn chưa chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập khác về Việt Nam thì sẽ bị xử phạt hành chính.
3. Điều kiện đầu tư ra nước ngoài là gì?
Căn cứ vào Điều 15 Nghị định 103/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 03/04/2026, quy định về điều kiện đầu tư ra nước ngoài như sau:
(1) Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc quy định tại Điều 38 Luật Đầu tư 2025.
(2) Không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài quy định tại Điều 40 Luật Đầu tư và đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại Điều 11 Nghị định 103/2026/NĐ-CP.
(3) Có quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điều 14 Nghị định 103/2026/NĐ-CP.
(4) Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư. Thời điểm xác nhận của cơ quan thuế không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự án đầu tư.
(5) Đối với tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngoài các điều kiện quy định tại các mục (1) (2) (3) và (4) phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Sử dụng nguồn vốn thuộc vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài, trong đó không bao gồm phần vốn góp để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam;
– Có kết quả hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liên tiếp liền kề trước năm đăng ký đầu tư ra nước ngoài, được xác định theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán (nếu có);
– Trường hợp sử dụng vốn góp tăng thêm để đầu tư ra nước ngoài thì phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Nghị định này trước, sau đó thực hiện thủ tục tăng vốn và góp đủ vốn điều lệ tại Việt Nam trước khi chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài.
4. Tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại
Nếu quý khách hàng còn có thắc mắc hay câu hỏi nào cần được tư vấn từ luật sư. Quý khách vui lòng liên hệ vào số Hotline 0978 333 379 hoặc liên hệ Zalo Hãng Luật BigBoss Law 0906 177 273 để được luật sư hỗ trợ nhanh chóng. Để nhận tư vấn trực tiếp tại văn phòng quý khách vui lòng đến các địa chỉ Trụ sở tại Số 25 đường GS 01, khu phố Tây B, Phường Đông Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi nhánh tại 343 đường Hùng Vương, xã Ngãi Giao, Thành phố Hồ Chí Minh. Trân trọng cảm ơn!














