Trước thực tiễn nhiều vi phạm đất đai phát sinh trong giai đoạn trước, việc áp dụng chính sách đặc thù nhằm xử lý các trường hợp vi phạm trước ngày 01/08/2024 đang nhận được nhiều sự quan tâm. Bài viết sẽ phân tích quy định về chính sách xử lý vi phạm đất đai trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, đồng thời làm rõ các điều kiện để người vi phạm được xem xét không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định mới, có hiệu lực từ ngày 01/05/2026.
1. Chính sách đặc thù xử lý vi phạm đất đai trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực.
Sáng ngày 24/4/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết 29/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 01/05/2026, quy định cơ chế, chính sách đặc thù về:
– Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình nhưng vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh và không tham nhũng xảy ra trước ngày 01 tháng 08 năm 2024;
– Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trước ngày 01 tháng 08 năm 2024.
Đối tượng áp dụng gồm:
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai tại các dự án, công trình nhưng vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh và không tham nhũng quy định tại khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết 29/2026/QH16.
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các dự án tồn đọng, kéo dài quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này.
Về nguyên tắc thực hiện, tại Điều 3 Nghị quyết 29/2026/QH16 quy định như sau:
(1) Nguyên tắc chung:
– Bảo đảm đúng thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16, phù hợp các nguyên tắc của pháp luật hiện hành, không trái với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
– Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm;
– Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
(2) Việc áp dụng các quy định tại Chương II của Nghị quyết 29/2026/QH16 bảo đảm các nguyên tắc tại (1) và các nguyên tắc sau:
– Xác định rõ vai trò, động cơ, mục đích của tổ chức, cá nhân vi phạm, nguyên nhân, tính chất, mức độ thiệt hại, kết quả khắc phục hậu quả, tài liệu, chứng cứ để kết luận về hành vi tham nhũng và hiệu quả về chính trị, kinh tế – xã hội của dự án, công trình; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; khẩn trương kết luận, xử lý, không để kéo dài đối với những vụ án, vụ việc có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai và quyết định xử lý theo quy định của Nghị quyết này;
– Phân định rõ việc xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm với các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với từng dự án, công trình để sớm đưa đất đai vào khai thác, sử dụng hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí;
– Không áp dụng các quy định trong Nghị quyết này để xem xét lại những quyết định xử lý kỷ luật, bản án hình sự đã có hiệu lực đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước ngày 01 tháng 8 năm 2024.
(3) Việc áp dụng các quy định tại Chương III của Nghị quyết 29/2026/QH16 bảo đảm các nguyên tắc tại (1) và các nguyên tắc sau:
– Chỉ xem xét, xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết 29/2026/QH16 trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án mà nguyên nhân dẫn đến vi phạm, sai phạm do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước hoặc do lỗi của cả cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư, chủ đầu tư.
Việc tháo gỡ vướng mắc cho các dự án hạn chế tối đa các khiếu kiện, nhất là các dự án có yếu tố nước ngoài; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba ngay tình;
– Việc áp dụng chính sách để tháo gỡ cho các dự án khó khăn, vướng mắc bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm nguyên tắc nhà đầu tư, chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, không ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng; bảo đảm năng lực, điều kiện thực hiện dự án theo quy định của pháp luật;
– Cho phép xử lý tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, bảo đảm không làm phát sinh sai phạm mới và có phương án khắc phục thiệt hại.
2. Điều kiện không truy cứu trách nhiệm hình sự vi phạm đất đai.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:
“1. Không gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Không tham nhũng;
b) Vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh;
c) Dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho địa phương, đất nước;
d) Không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định.
2. Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước thì phải bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và đã khắc phục toàn bộ hậu quả.”
Như vậy điều kiện áp dụng không truy cứu trách nhiệm hình sự là dự án đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội và không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã được giải quyết dứt điểm. Đồng thời, trường hợp không gây thất thoát tài sản nhà nước hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì được xem xét miễn kỷ luật.
Đối với trường hợp chưa khắc phục được hậu quả, Nghị quyết cho phép chưa xem xét xử lý kỷ luật tối đa 02 năm để tiếp tục khắc phục. Sau thời hạn này, nếu đã khắc phục thì được miễn kỷ luật, nếu chưa thì căn cứ vào mức độ khắc phục để giảm nhẹ hình thức kỷ luật.
Bên cạnh đó, theo Điều 9 Nghị quyết 29/2026/QH16, đối với các trường hợp đã có bản án, người vi phạm vẫn có thể được xem xét hoãn chấp hành hình phạt nếu đáp ứng điều kiện quy định. Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tối đa là 02 năm và không tính vào thời hiệu thi hành án.
Sau thời hạn này, nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt; nếu chưa khắc phục thì tiếp tục thi hành án nhưng có thể được giảm mức hình phạt hoặc thời hạn chấp hành hình phạt căn cứ vào mức độ khắc phục và hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án.
Ngoài ra, người đang chấp hành án hoặc chưa thi hành án nhưng đủ điều kiện theo Điều 5 có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại. Trường hợp đã chấp hành xong bản án mà chưa xóa án tích thì được đương nhiên xóa án tích nếu đủ điều kiện theo quy định của Nghị quyết 29/2026/QH16.
3. Tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại.
Nếu quý khách hàng còn có thắc mắc hay câu hỏi nào cần được tư vấn từ luật sư. Quý khách vui lòng liên hệ vào số Hotline 0978 333 379 hoặc liên hệ Zalo Hãng Luật BigBoss Law 0906 177 273 để được luật sư hỗ trợ nhanh chóng. Để nhận tư vấn trực tiếp tại văn phòng quý khách vui lòng đến các địa chỉ Trụ sở tại Số 25 đường GS 01, khu phố Tây B, Phường Đông Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi nhánh tại 343 đường Hùng Vương, xã Ngãi Giao, thành phố Hồ Chí Minh. Trân trọng cảm ơn!














