1. Căn cứ hủy bỏ hoặc thay đổi quyết định tạm hoãn xuất cảnh
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, quyết định tạm hoãn xuất cảnh có thể bị hủy bỏ hoặc thay đổi trong một số trường hợp nhất định. Căn cứ Điều 20 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, trong giai đoạn điều tra, trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn 10 ngày, Cơ quan điều tra có trách nhiệm phải có văn bản nêu rõ lý do, căn cứ và đề nghị Viện kiểm sát gia hạn, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn. Như vậy, nếu nhận thấy không còn căn cứ pháp lý hoặc không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh thì Cơ quan điều tra có thể đề nghị hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp này.
Điều 20 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP: Gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra
“1. Trong giai đoạn điều tra, trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn 10 ngày, Cơ quan điều tra phải có văn bản nêu rõ căn cứ, lý do và đề nghị Viện kiểm sát gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn.
2. Khi đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ mọi biện pháp ngăn chặn đã được phê chuẩn, nêu rõ lý do, kèm theo các chứng cứ, tài liệu chứng minh căn cứ đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can.
3. Hồ sơ đề nghị gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn gồm:
a) Văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra nêu rõ căn cứ, lý do đề nghị gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn;
b) Chứng cứ, tài liệu là căn cứ để Cơ quan điều tra đề nghị gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn.”
Bên cạnh đó, cũng theo Điều 20 nêu trên, khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can, Cơ quan điều tra phải đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ mọi biện pháp ngăn chặn đã được phê chuẩn. Việc hủy bỏ trong trường hợp này là cần thiết để bảo đảm quyền tự do đi lại của cá nhân khi họ không còn là đối tượng bị điều tra, truy tố. Đây là cơ chế cân bằng giữa việc bảo vệ trật tự, an toàn xã hội với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp.
2. Quy định về tạm hoãn xuất cảnh đối với người nước ngoài
Đối với người nước ngoài, pháp luật Việt Nam có quy định cụ thể tại Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014. Theo đó, người nước ngoài có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thuộc một trong các trường hợp: đang là bị can, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; đang là bị đơn hoặc người có nghĩa vụ trong vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình; đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án hoặc Hội đồng xử lý cạnh tranh; chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; hoặc đang chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngoài ra, lý do quốc phòng, an ninh cũng có thể là căn cứ để áp dụng biện pháp này.
Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014: Các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh và thời hạn tạm hoãn xuất cảnh
“1. Người nước ngoài có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang là bị can, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc đang là bị đơn, người bị kiện, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình;
b) Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý cạnh tranh;
c) Chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;
d) Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
đ) Vì lý do quốc phòng, an ninh.
2. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị dẫn giải ra nước ngoài để cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 25 của Luật tương trợ tư pháp.
3. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không quá 03 năm và có thể gia hạn.”
Đáng chú ý, Khoản 2 Điều 28 quy định rõ rằng các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh không áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù nhưng được dẫn giải ra nước ngoài để cung cấp chứng cứ theo Điều 25 Luật Tương trợ tư pháp. Đây là ngoại lệ nhằm phục vụ hoạt động hợp tác tư pháp quốc tế, thể hiện sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người nước ngoài theo Khoản 3 Điều 28 tối đa là 3 năm và có thể được gia hạn. Quy định này cho thấy Nhà nước vừa bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nước ngoài, vừa giữ vững an ninh trật tự trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc liên quan.
Điều 25 Luật Tương trợ tư pháp: Dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ
“1. Người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam có thể được dẫn giải cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu để cung cấp chứng cứ trong vụ án hình sự tại nước yêu cầu.
2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chỉ dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều này với các điều kiện sau đây:
a) Người đó đồng ý với việc dẫn giải và cung cấp chứng cứ tại nước yêu cầu;
b) Cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu phải cam kết bằng văn bản về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại, thời hạn, phương thức tiếp nhận, trao trả và các điều kiện cụ thể khác liên quan đến việc dẫn giải do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam đề nghị. Văn bản cam kết được lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan đến việc dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ. Việc trao trả lại người bị dẫn giải cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam phải được thực hiện theo đúng thời hạn đã cam kết.
3. Thời gian mà người đang chấp hành hình phạt tù bị dẫn giải, lưu lại ở nước yêu cầu được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của người đó.”
3. Trách nhiệm quản lý của Bộ Ngoại giao
Để bảo đảm tính đồng bộ trong quản lý xuất nhập cảnh, Điều 48 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 giao cho Bộ Ngoại giao những nhiệm vụ quan trọng. Theo đó, Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Công an trong việc quản lý hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài. Đồng thời, Bộ Ngoại giao cũng là cơ quan có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ thị thực; cấp và hủy bỏ thẻ tạm trú; gia hạn tạm trú cho người nước ngoài.
Điều 48 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014: Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
“1. Phối hợp với Bộ Công an thực hiện hoạt động quản lý về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
2. Thực hiện cấp, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ thị thực; cấp, hủy bỏ thẻ tạm trú; gia hạn tạm trú cho người nước ngoài theo quy định của Luật này.
3. Chỉ đạo cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện quy định của pháp luật liên quan đến nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
4. Đề xuất cơ quan có thẩm quyền việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.”
Ngoài ra, Bộ Ngoại giao còn chỉ đạo các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài trong việc thực hiện quy định pháp luật liên quan đến xuất nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài. Bộ cũng có trách nhiệm đề xuất với cơ quan có thẩm quyền việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế về xuất nhập cảnh và cư trú. Như vậy, Bộ Ngoại giao đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm việc áp dụng và quản lý tạm hoãn xuất cảnh đối với người nước ngoài diễn ra minh bạch, tuân thủ pháp luật và phù hợp với cam kết quốc tế.
4. Kết luận
Như vậy, quyết định tạm hoãn xuất cảnh có thể bị hủy bỏ hoặc thay đổi trong trường hợp không còn căn cứ pháp lý hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra. Đối với người nước ngoài, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể về căn cứ, thời hạn và cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp này nhằm vừa bảo đảm quyền lợi của cá nhân vừa giữ gìn trật tự, an ninh quốc gia. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và Bộ Ngoại giao là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính hiệu quả, công bằng và minh bạch trong việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
5. Tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại
Nếu quý khách hàng còn có thắc mắc hay câu hỏi nào cần được tư vấn từ luật sư. Quý khách vui lòng liên hệ vào số Hotline 0978 333 379 để được luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn!







