
Từ tháng 10/2025, nhiều chính sách, luật và nghị định mới bắt đầu có hiệu lực, tác động trực tiếp đến các lĩnh vực quan trọng như thuế, khoa học – công nghệ, y tế, giáo dục, tài chính và ngân hàng. Đây là giai đoạn đánh dấu sự điều chỉnh mạnh mẽ của hệ thống pháp luật nhằm phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quản lý nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền lợi của cá nhân và tổ chức. Bài viết dưới đây tổng hợp những điểm mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 10/2025, giúp người dân và doanh nghiệp chủ động nắm bắt, thực hiện đúng quy định pháp luật hiện hành.
1. Những chính sách mới có hiệu lực từ ngày 01/10/2025
(1) 02 Luật mới bắt đầu có hiệu lực
– Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025
+ Ban hành: 14/06/2025
+ Hiệu lực: 01/10/2025
+ Trích yếu nội dung: Quy định về người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Thay thế Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 (sửa đổi 2013).
– Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025
+ Ban hành: 27/06/2025
+ Hiệu lực: 01/10/2025
+ Trích yếu nội dung: Quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chính sách, biện pháp bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Thay thế cho Luật khoa học và công nghệ 2013.
(2) Bổ sung 03 khoản thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân
Theo khoản 3 Điều 71 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 bổ sung các khoản 18, 19, 20 vào sau khoản 17 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (đã được sửa đổi, bổ sung 2014) về các khoản thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân:
– Thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
– Thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khi kết quả nhiệm vụ được thương mại hóa theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí tuệ.
– Thu nhập của nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia làm việc cho dự án khởi nghiệp sáng tạo, sáng lập viên doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhà đầu tư cá nhân góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm.
(3) Quy định mới về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 01/10/2025
Theo Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng như sau:
(i) Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, trừ trường hợp quy định tại (ii), (iii) và (iv) dưới đây và đối tượng được ưu đãi về thuế suất quy định tại Điều 13 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.
(ii) Thuế suất 15% áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng.
(iii) Thuế suất 17% áp dụng đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ trên 03 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng.
Doanh thu làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được áp dụng thuế suất 15% và 17% quy định tại (ii), (iii) là tổng doanh thu của kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp trước liền kề. Việc xác định tổng doanh thu làm căn cứ áp dụng thực hiện theo quy định của Chính phủ.
(iv) Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số trường hợp khác được quy định như sau:
– Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí từ 25% đến 50%. Căn cứ vào vị trí, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ, Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể phù hợp với từng hợp đồng dầu khí;
– Đối với hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên quý hiếm (bao gồm: bạch kim, vàng, bạc, thiếc, wonfram, antimoan, đá quý, đất hiếm và tài nguyên quý hiếm khác theo quy định của pháp luật) là 50%. Trường hợp các mỏ có từ 70% diện tích được giao trở lên ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, thuế suất là 40%.
Xem thêm tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 có hiệu lực từ 01/10/2025.
(4) Cho phép phụ nữ độc thân được thực hiện IVF khi có nguyện vọng
Tại Điều 3 Nghị định 207/2025/NĐ-CP quy định nguyên tắc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cụ thể:
– Việc thực hiện hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải tuân theo nguyên tắc chỉ được hiến tại một cơ sở được phép lưu giữ tinh trùng, lưu giữ noãn, lưu giữ phôi.
– Tinh trùng, noãn, phôi hiến chỉ được sử dụng cho một phụ nữ hoặc một cặp vợ chồng để sinh con.
– Việc hiến và nhận tinh trùng, hiến và nhận phôi được thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa người hiến và người nhận.
– Chỉ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đối với các cặp vợ chồng vô sinh hoặc có chỉ định về y tế và phụ nữ độc thân có nguyện vọng.
– Vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được đảm bảo an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.
Như vậy, từ 01/10/2025, phụ nữ độc thân sẽ được thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khi có nguyện vọng, bao gồm thụ tinh trong ống nghiệm (IVF).
Hiện nay có một số phương pháp hỗ trợ sinh sản phổ biến bao gồm:
– Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)
– Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
– Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)
– Hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted Hatching – AH)
– Trưởng thành trứng non (IVM)
…
Quy định mới này mở rộng quyền chủ động làm mẹ, không còn ràng buộc lý do y tế, phù hợp hơn với xu hướng xã hội hiện đại và nhu cầu cá nhân của phụ nữ độc thân.
Xem thêm chi tiết tại Nghị định 207/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/10/2025.
(5) Quy định mới về cấp mới giấy chứng sinh từ 01/10/2025
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư 22/2025/TT-BYT ngày 28/6/2025 quy định cấp và sử dụng giấy chứng sinh.
Theo Điều 3 Thông tư 22/2025/TT-BYT quy định về cấp mới giấy chứng sinh như sau:
– Trường hợp trẻ sinh ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi trẻ sinh ra cấp giấy chứng sinh theo mẫu số 01 quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 22/2025/TT-BYT cho trẻ trước khi trẻ ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc sớm hơn theo đề nghị của thân nhân của trẻ.
– Trường hợp trẻ sinh ra ngoài cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
Trẻ sinh ra ngoài cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng được người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh hoặc nhân viên y tế thôn, bản hoặc cô đỡ thôn, bản đỡ đẻ (sau đây gọi tắt là người đỡ đẻ):
+ Trong thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm trẻ sinh ra sống, thân nhân của trẻ nộp tờ khai đề nghị cấp giấy chứng sinh theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 22/2025/TT-BYT cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi quản lý người đỡ đẻ và xuất trình giấy tờ tùy thân hợp lệ có số định danh cá nhân hoặc hộ chiếu của người mẹ sinh ra trẻ để đối chiếu;
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ khai đề nghị cấp giấy chứng sinh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm xác minh thông tin về người đỡ đẻ, người mẹ sinh ra trẻ, trẻ sơ sinh và cấp giấy chứng sinh cho trẻ. Trường hợp không xác minh được thông tin hoặc thông tin không chính xác thì không cấp giấy chứng sinh.
– Trường hợp trẻ sinh ra do thực hiện kỹ thuật mang thai hộ:
+ Nếu trẻ sinh ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện kỹ thuật mang thai hộ cho người sinh ra trẻ: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp giấy chứng sinh theo mẫu số 02 quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 22/2025/TT-BYT cho trẻ trước khi trẻ ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc sớm hơn theo đề nghị của thân nhân của trẻ.
+ Nếu trẻ sinh ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thực hiện kỹ thuật mang thai hộ cho người sinh ra trẻ: bên nhờ mang thai hộ hoặc bên mang thai hộ nộp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi trẻ sinh ra bản xác nhận về việc thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư 22/2025/TT-BYT và xuất trình giấy tờ tùy thân hợp lệ có số định danh cá nhân hoặc hộ chiếu của người mẹ sinh ra trẻ để đối chiếu.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ thời điểm nhận được bản xác nhận về việc thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi trẻ sinh ra cấp giấy chứng sinh theo mẫu số 02 quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 22/2025/TT-BYT.
– Trường hợp trẻ sinh ra sống tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tử vong trước khi ra viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện cấp giấy chứng sinh cho trẻ theo mẫu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 22/2025/TT-BYT, sau đó thực hiện cấp giấy báo tử.
Giấy chứng sinh được lập thành 02 bản có giá trị pháp lý như nhau, 01 bản giao cho thân nhân của trẻ và 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp đẻ sinh đôi hoặc nhiều hơn, thì mỗi trẻ sinh sống được cấp 01 giấy chứng sinh với mã số khác nhau.
Xem thêm Thông tư 22/2025/TT-BYT có hiệu lực từ 01/10/2025.
(6) Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng
Ngày 12/8/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 23/2025/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó, sửa đổi, bổ sung Điều 7 Thông tư 30/2019/TT-NHNN về giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc như sau:
(i) Tổ chức tín dụng hỗ trợ quy định tại khoản 39 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hỗ trợ) được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo phương án phục hồi tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi là phương án phục hồi đã được phê duyệt).
(ii) Tổ chức tín dụng là bên nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (sau đây gọi là tổ chức tín dụng nhận chuyển giao) được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo phương án chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi là phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt).
(iii) Mức giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng tổ chức tín dụng quy định tại (i) và (ii) được tính trên cơ sở tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng đó quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 30/2019 và áp dụng đối với tất cả các loại tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc.
(Trong khi đó, tại Điều 7 Thông tư 30/2019 quy định: Tổ chức tín dụng hỗ trợ quy định tại khoản 40 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung 2017) được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng đó quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư 30/2019 đối với tất cả các loại tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc theo phương án phục hồi đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 7 Điều 148đ Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung 2017)).
Xem chi tiết nội dung Thông tư 23/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/10/2025.
(7) Điều kiện cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Nghị định số 207/2025/NĐ-CP ngày 15/7/2025 quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có hiệu lực từ 1/10/2025.
Nghị định quy định rõ điều kiện của cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:
Có ít nhất 02 năm kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, trong đó 02 năm gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ phải thực hiện được tối thiểu là 500 chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm mỗi năm.
Có người tư vấn về y tế là bác sĩ chuyên khoa phụ sản, người tư vấn về tâm lý có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên hoặc bác sĩ có chứng chỉ đào tạo về lĩnh vực tâm lý, người tư vấn về pháp lý có trình độ cử nhân luật trở lên. Người tư vấn về y tế phải là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Người tư vấn về tâm lý, tư vấn pháp lý là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc là nhân sự hợp tác theo quy định của pháp luật.
(8) Chính thức xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng
Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 10/10/2025.
Nội dung đáng chú ý của Nghị định 232/2025/NĐ-CP là đã bãi bỏ khoản 3 Điều 4 của Nghị định 24/2012/NĐ-CP xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.
Nghị định số 232/2025/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 10 Điều 4 của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về thanh toán mua, bán vàng: “Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”
(9) Tàu quân sự của cùng một quốc gia đến Việt Nam thực hiện các chuyến thăm không quá 03 lần trong 01 năm
Chính phủ ban hành Nghị định 234/2025/NĐ-CP ngày 27/08/2025 quy định đối với tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tàu quân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đi nước ngoài có hiệu lực từ ngày 12/10/2025.
Nghị định này quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp phép; thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, chuyển cảng; kiểm tra, giám sát; đảm bảo an ninh, an toàn, công tác lễ tân và trách nhiệm quản lý nhà nước đối với tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam) và tàu quân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đi nước ngoài (tàu quân sự Việt Nam đi nước ngoài).
Về hoạt động của tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các chuyến thăm, Nghị định nêu rõ, tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam thực hiện các chuyến thăm được neo đậu, hoạt động tại cảng biển, cảng quân sự đã được cấp phép; phải tuân thủ các quy định của Nghị định này, quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan và sự hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng.
Tàu quân sự của cùng một quốc gia đến Việt Nam thực hiện các chuyến thăm:
+ Không quá 03 lần trong 01 năm.
+ Không được trú đậu quá 03 tàu tại cùng một cảng trong cùng một thời điểm, thời gian trú đậu không quá 07 ngày.
+ Trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
(10) Danh mục ngành, nghề được hưởng chính sách khuyến công
Nghị định số 235/2025/NĐ-CP ngày 27/8/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục ngành, nghề được hưởng chính sách khuyến công. Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất vào các ngành nghề, lĩnh vực sau đây được hưởng chính sách khuyến công:
a) Công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản và chế biến thực phẩm.
b) Công nghiệp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu.
c) Công nghiệp hóa chất phục vụ nông nghiệp; sản xuất vật liệu xây dựng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; công nghệ sinh học, công nghiệp môi trường, các ngành chuyển đổi từ công nghiệp xanh, công nghiệp giảm phát thải và cacbon thấp, công nghiệp năng lượng thân thiện môi trường.
d) Công nghiệp cơ khí; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp dệt may, da giày; công nghiệp công nghệ cao, sạch, tiêu tốn ít năng lượng, mang lại giá trị gia tăng cao, phát triển bền vững.
đ) Nghề tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ tại địa phương cần được bảo tồn, phát triển.
e) Áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững; xử lý môi trường tại các cụm công nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn.
g) Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/10/2025.
(11) Áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung từ ngày 15/10/2025
Chính phủ ban hành Nghị định số 236/2025/NĐ-CP ngày 29/8/2025 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/10/2025.
Theo đó, người nộp thuế là đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có doanh thu năm trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao ít nhất 2 năm trong 4 năm liền kề trước năm tài chính xác định nghĩa vụ thuế tương đương 750 triệu euro trở lên, trừ các trường hợp được loại trừ theo quy định. Với các tập đoàn mới thành lập, nếu trong thời gian hoạt động dưới 4 năm đã có ít nhất 2 năm đạt ngưỡng doanh thu 750 triệu euro thì các đơn vị hợp thành cũng thuộc diện phải nộp thuế.
(12) Quy định mới về cách xác định tuổi của tàu biển
Chính phủ ban hành Nghị định 247/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 171/2016/NĐ-CP ngày 27/12/2016 của Chính phủ về đăng ký, xóa đăng ký và mua, bán, đóng mới tàu biển đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 86/2020/NĐ-CP ngày 23/7/2020.
Nghị định 247/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 11 Điều 3 quy định cách xác định tuổi của tàu biển. Theo đó, tuổi của tàu biển được tính bằng số năm và bắt đầu từ ngày bàn giao tàu biển.
Ngày bàn giao tàu biển là ngày hoàn thành cuộc kiểm tra lần đầu trước khi tàu được đưa vào sử dụng làm cơ sở cho việc cấp các giấy chứng nhận kỹ thuật về an toàn hàng hải theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và được ghi trên các giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật đó.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 30/10/2025.
(13) Bỏ hình thức đình chỉ học tập với học sinh vi phạm kỷ luật từ 31/10/2025
Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT ngày 15/9/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khen thưởng và kỷ luật học sinh có hiệu lực từ ngày 31/10/2025.
Thông tư quy định các hình thức khen thưởng, gồm: tuyên dương trước lớp, tuyên dương trước toàn trường, giấy khen của hiệu trưởng, thư khen và các hình thức tuyên dương, khen thưởng khác.
Về hình thức kỷ luật, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định ba hình thức gồm: nhắc nhở, phê bình, yêu cầu viết bản tự kiểm điểm. Riêng đối với học sinh tiểu học thì áp dụng hai hình thức kỷ luật gồm: nhắc nhở, yêu cầu xin lỗi.
Thông tư cũng quy định về hoạt động hỗ trợ khắc phục hành vi vi phạm như khuyên bảo, động viên để học sinh tự nhận thức được hành vi vi phạm và hướng khắc phục; theo dõi, tư vấn, hỗ trợ học sinh vi phạm trong quá trình khắc phục hành vi vi phạm.
(14) Ngân hàng Nhà nước giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho một số tổ chức tín dụng
Ngày 12/8, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 23/2025/TT-NHNN, sửa đổi Thông tư 30/2019/TT-NHNN về quy định dự trữ bắt buộc. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/10/2025.
Điểm đáng chú ý, các tổ chức tín dụng hỗ trợ hoặc nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng thương mại được kiểm soát đặc biệt sẽ được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo phương án phục hồi, chuyển giao đã được phê duyệt.
Thông tư cũng bổ sung quy định đối với ngân hàng chính sách, đồng thời thay đổi tên gọi “Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố” thành “Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực”. Ngoài ra, văn bản nêu rõ trách nhiệm của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng và Thanh tra Ngân hàng Nhà nước trong xử lý vi phạm liên quan đến dự trữ bắt buộc.
(15) Quy định mới về quản lý tài khoản thanh toán của Kho bạc Nhà nước
Bộ Tài chính ban hành Thông tư 81/2025/TT-BTC ngày 13/8/2025 quy định quản lý và sử dụng tài khoản thanh toán của Kho bạc Nhà nước mở tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Thông tư có hiệu lực từ 1/10/2025.
Theo đó, Kho bạc Nhà nước (Trung ương và khu vực) được phép mở tài khoản bằng VND và ngoại tệ để thực hiện các giao dịch thu, chi ngân quỹ, điều hành số dư, sử dụng nguồn tạm thời nhàn rỗi và xử lý thiếu hụt. Các ngân hàng thương mại phải đáp ứng yêu cầu thanh toán song phương điện tử, bảo đảm truyền dữ liệu kịp thời, chính xác cho Kho bạc, cơ quan thuế và hải quan. Số dư tài khoản cuối ngày được chuyển về tài khoản của Kho bạc tại Ngân hàng Nhà nước, trừ trường hợp bất khả kháng.
(16) Các trường hợp được miễn phí, lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh
Bộ Tài chính ban hành Thông tư 86/2025/TT-BTC ngày 28/8/2025 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí hải quan, lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh, có hiệu lực từ 12/10/2025.
Theo Thông tư, các đối tượng được miễn gồm: hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong định mức miễn thuế; đồ dùng theo diện ngoại giao; hành lý mang theo người; hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới; phương tiện cư dân biên giới được quản lý bằng sổ theo dõi; hàng hóa, phương tiện được miễn theo điều ước quốc tế hoặc cam kết của Chính phủ Việt Nam.
Trên đây là những chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ ngày 10/2025.
2. Tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại
Nếu quý khách hàng còn có thắc mắc hay câu hỏi nào cần được tư vấn từ luật sư. Quý khách vui lòng liên hệ vào số Hotline 0978 333 379 để được luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn!






