1. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư từ các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định 212/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Nghị định này xác định nguyên tắc, danh mục và cơ chế quản lý các khoản đầu tư. Theo đó, việc đầu tư vào trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng thương mại là một trong những hình thức được phép, bên cạnh công cụ nợ của Chính phủ và tiền gửi ngân hàng. Đây là bước cụ thể hóa quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Luật Bảo hiểm y tế 2008 và Luật Việc làm 2013 về việc quản lý quỹ theo hướng an toàn, hiệu quả và minh bạch.
2. Nguyên tắc và điều kiện thực hiện
Điều 11 Nghị định 212/2025/NĐ-CP quy định rõ Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ được phép đầu tư vào trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi do các ngân hàng thương mại nhà nước hoặc ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước trên 50% vốn điều lệ phát hành, đồng thời không thuộc diện bị kiểm soát đặc biệt. Về thời hạn, khoản đầu tư phụ thuộc trực tiếp vào kỳ hạn của giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành. Về lãi suất, cơ chế được thiết kế nhằm bảo đảm quỹ không bị thiệt thòi.
Điều 11 Nghị định 212/2025/NĐ-CP: Đầu tư trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại
“1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam đầu tư trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại theo phương án đầu tư hằng năm được Hội đồng quản lý thông qua. Ngân hàng phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi là các ngân hàng thương mại theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Nghị định này.
2. Thời hạn đầu tư trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi tùy thuộc vào thời hạn của từng loại giấy tờ có giá do ngân hàng thương mại phát hành.
3. Lãi suất mua trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi là lãi suất trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng thương mại phát hành theo nguyên tắc sau:
a) Trường hợp trong vòng 03 tháng trước thời điểm mua, Kho bạc Nhà nước không phát hành trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn, lãi suất mua trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi đảm bảo không thấp hơn mức trung bình lãi suất tiền gửi cao nhất đối với tổ chức, cá nhân cùng kỳ hạn hoặc kỳ hạn thấp hơn gần nhất (trong trường hợp không cùng kỳ hạn) của bốn chi nhánh trên địa bàn thành phố Hà Nội thuộc bốn ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Việc lựa chọn bốn chi nhánh thuộc bốn ngân hàng thương mại quy định tại khoản này do Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định.
b) Trường hợp trong vòng 03 tháng trước thời điểm mua, Kho bạc Nhà nước có phát hành trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn, mức lãi suất mua trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi đảm bảo không thấp hơn đồng thời lãi suất trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn và mức trung bình lãi suất tiền gửi quy định tại điểm a khoản này.
4. Số tiền gốc, tiền sinh lời thu được từ đầu tư trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại được theo dõi và hạch toán theo quy định tại Điều 14 Nghị định này.
5. Trường hợp phải bán trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi để thu hồi khoản đầu tư trước hạn, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có văn bản nêu rõ lý do, trình Hội đồng quản lý xem xét, quyết định.”
Nếu trong ba tháng trước thời điểm mua không có phát hành trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn, lãi suất đầu tư phải đảm bảo không thấp hơn lãi suất tiền gửi cao nhất của bốn ngân hàng thương mại lớn gồm VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank. Ngược lại, nếu trong thời gian này có phát hành trái phiếu Chính phủ cùng kỳ hạn, lãi suất mua phải đồng thời không thấp hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ và lãi suất trung bình của bốn ngân hàng nói trên.
3. Cơ chế quản lý và giám sát
Khoản vốn gốc và lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư vào trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi được hạch toán theo quy định tại Điều 14 Nghị định 212/2025/NĐ-CP, bảo đảm công khai và minh bạch trong quản lý tài chính. Trường hợp cần bán trước hạn, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải có văn bản giải trình lý do và được Hội đồng quản lý xem xét quyết định. Cơ chế này hạn chế rủi ro từ việc rút vốn sớm và tạo hàng rào kiểm soát đối với các quyết định có thể ảnh hưởng đến an toàn quỹ. Hoạt động đầu tư còn chịu sự giám sát của nhiều cấp, bao gồm Hội đồng quản lý, Bộ Tài chính và Kiểm toán Nhà nước, nhờ đó giảm thiểu nguy cơ sai phạm và bảo đảm sự tin cậy của người tham gia bảo hiểm.
Điều 14 Nghị định 212/2025/NĐ-CP: Chi phí đầu tư và việc theo dõi, hạch toán khoản đầu tư
“1. Các chi phí liên quan tới hoạt động đầu tư (chi phí lưu ký, giao dịch và chi phí khác theo quy định của pháp luật) được hạch toán, chi trả theo quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế tài chính về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, chi tổ chức và hoạt động của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.
2. Số tiền gốc thu được từ khoản đầu tư được theo dõi và hạch toán độc lập theo từng quỹ (quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quỹ dự phòng rủi ro) trong đó đối với quỹ bảo hiểm xã hội chi tiết theo từng quỹ thành phần và được hạch toán theo chế độ kế toán của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
3. Toàn bộ số tiền sinh lời thu được từ khoản đầu tư (bao gồm tiền sinh lời từ quỹ dự phòng rủi ro) được phân bổ vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 13 Nghị định này và được hạch toán theo chế độ kế toán của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
4. Số tiền thu hồi từ hoạt động đầu tư đã quá hạn trả nợ được hạch toán theo thứ tự thu đủ nợ gốc trước, thu nợ tiền sinh lời sau. Trường hợp có phán quyết của tòa án nêu cụ thể, số tiền thu hồi được hạch toán theo bản án của tòa án.”
4. Ý nghĩa của hoạt động đầu tư
Việc Bảo hiểm xã hội Việt Nam đầu tư vào trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng thương mại mang lại nhiều ý nghĩa. Đối với bản thân quỹ bảo hiểm, hoạt động này giúp bảo toàn và gia tăng giá trị vốn, tạo cơ sở bền vững để chi trả quyền lợi cho người lao động trong dài hạn. Đối với hệ thống ngân hàng, nguồn vốn đầu tư từ quỹ bảo hiểm góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn, hỗ trợ ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng và đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế. Ở tầm vĩ mô, hoạt động này giúp tăng cường huy động và phân bổ nguồn lực tài chính, qua đó góp phần ổn định thị trường vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
5. Một số vấn đề đặt ra và định hướng hoàn thiện
Mặc dù quy định hiện hành tạo ra khung pháp lý an toàn và chặt chẽ, song trong thực tiễn vẫn xuất hiện một số vấn đề. Danh mục đầu tư còn hạn chế khi tập trung chủ yếu vào các kênh truyền thống, dẫn đến mức sinh lời chưa cao so với tiềm năng của quỹ. Trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển, việc chưa cho phép tiếp cận các công cụ khác có độ an toàn cao, như trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng tín nhiệm hoặc chứng chỉ quỹ trái phiếu, khiến hiệu quả đầu tư chưa thật sự đa dạng. Bên cạnh đó, biến động lãi suất trên thị trường có thể ảnh hưởng đến giá trị và lợi nhuận đầu tư, đòi hỏi cơ quan quản lý quỹ phải nâng cao năng lực phân tích, dự báo và quản trị rủi ro.
Trong tương lai, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để vừa đảm bảo nguyên tắc an toàn, vừa tăng cường hiệu quả sinh lời của quỹ. Điều này có thể thực hiện thông qua việc mở rộng danh mục đầu tư một cách thận trọng, song song với việc tăng cường cơ chế minh bạch hóa thông tin và báo cáo. Qua đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam không chỉ giữ vững vai trò là trụ cột an sinh xã hội mà còn trở thành một nhà đầu tư tổ chức lớn, có tác động tích cực đến sự phát triển ổn định của thị trường tài chính – ngân hàng.
6. Tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại
Nếu quý khách hàng còn có thắc mắc hay câu hỏi nào cần được tư vấn từ luật sư. Quý khách vui lòng liên hệ vào số Hotline 0978 333 379 để được luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn!







