1. 06 chính sách ưu đãi trọng điểm – Căn cứ pháp lý liên quan
Điều 10 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017: Hỗ trợ thuế, kế toán
“1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được áp dụng có thời hạn mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng các thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán đơn giản theo quy định của pháp luật về thuế, kế toán.”
Khoản 4 Điều 10 Nghị quyết 198/2025/QH15:
“4. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.”
Trước tiên, một trong những chính sách quan trọng và cấp thiết nhất chính là miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đây là nội dung được kế thừa và mở rộng từ Điều 10 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, đồng thời được cụ thể hóa trong Khoản 4 Điều 10 Nghị quyết 198/2025/QH15, chính sách này được kỳ vọng sẽ tạo ra “đòn bẩy tài chính” giúp doanh nghiệp giảm áp lực chi phí trong giai đoạn khởi sự. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 01/01/2026, đồng thời miễn các loại phí, lệ phí với giấy tờ phải cấp lại hoặc cấp đổi trong quá trình tổ chức lại bộ máy hành chính, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động kinh doanh.
Một điểm sáng khác trong Nghị quyết là ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đấu thầu các gói thầu mua sắm công. Điều 11 của Nghị quyết 198/2025/QH15 quy định rằng các gói thầu có giá trị không quá 20 tỷ đồng sử dụng ngân sách nhà nước sẽ được dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, doanh nghiệp do thanh niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc người khuyết tật làm chủ, hay hoạt động ở miền núi, biên giới, hải đảo sẽ được ưu tiên hơn. Quy định này không chỉ tạo cơ hội tiếp cận thị trường công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển vùng sâu, vùng xa.
Điều 11 Nghị quyết 198/2025/QH15: Ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu
“1. Gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa, gói thầu hỗn hợp cung cấp hàng hóa và xây lắp sử dụng ngân sách nhà nước có giá gói thầu không quá 20 tỷ đồng được dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên doanh nghiệp do thanh niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật làm chủ, doanh nghiệp ở miền núi, biên giới, hải đảo.
2. Trường hợp đã tổ chức đấu thầu, nếu không có doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng được yêu cầu thì được phép tổ chức đấu thầu lại và không phải áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này.”
Trong thời đại chuyển đổi số, việc hỗ trợ công nghệ cho doanh nghiệp là một chính sách chiến lược. Theo Điều 12, Nhà nước bố trí kinh phí để cung cấp miễn phí các phần mềm kế toán và dịch vụ tư vấn thuế, kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt, doanh nghiệp còn được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, và được tính gấp đôi chi phí cho hoạt động R&D vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Chính sách này thể hiện quyết tâm đồng hành cùng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nâng cao năng lực số và đổi mới mô hình sản xuất – kinh doanh.
Điều 12 Nghị quyết 198/2025/QH15: Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
“1. Doanh nghiệp được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được sử dụng quỹ để tự triển khai hoặc đặt hàng bên ngoài nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo theo cơ chế khoán sản phẩm. Việc sử dụng quỹ này thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế đối với chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ.
3. Nhà nước bố trí kinh phí để cung cấp miễn phí các nền tảng số, phần mềm kế toán dùng chung cho doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh theo quy định của Chính phủ.”
Không dừng lại ở tài chính và công nghệ, Nghị quyết còn tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất. Theo Điều 7, các địa phương được sử dụng ngân sách để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ, từ đó dành diện tích đất với mức hỗ trợ tiền thuê giảm tối thiểu 30% trong 5 năm đầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt, các khu công nghiệp thành lập sau khi nghị quyết có hiệu lực sẽ phải dành bình quân 20ha/khu hoặc 5% diện tích đất để phục vụ nhóm doanh nghiệp này – một quy định thể hiện tầm nhìn dài hạn trong chính sách phát triển vùng sản xuất.
Điều 7 Nghị quyết 198/2025/QH15: Hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh
“1. Các địa phương được sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ một phần đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ. Các nội dung được hỗ trợ bao gồm: hỗ trợ thu hồi đất, bồi thường, tái định cư; hỗ trợ đầu tư công trình kết cấu hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và thông tin liên lạc.
2. Chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ được hỗ trợ đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều này phải dành một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê, thuê lại. Không áp dụng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công đối với tài sản hình thành từ nguồn vốn hỗ trợ đầu tư quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Căn cứ vào tình hình thực tế và khả năng cân đối ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức hỗ trợ đầu tư và xác định diện tích đất đã đầu tư hạ tầng của khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ dành cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê, thuê lại quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành lập mới sau ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế, xác định diện tích đất đối với từng khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng bảo đảm bình quân 20 ha/khu công nghiệp, cụm công nghiệp hoặc 5% diện tích đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn để dành cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê, thuê lại.
5. Trường hợp khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành lập mới theo quy định tại khoản 4 Điều này mà không được nhận hỗ trợ đầu tư của Nhà nước để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, sau thời hạn 02 năm kể từ ngày khu công nghiệp, cụm công nghiệp hoàn thành việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng mà không có doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê, thuê lại, thì chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp được quyền cho các doanh nghiệp khác thuê, thuê lại.
6. Doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong vòng 05 năm đầu kể từ ngày ký hợp đồng thuê đất với chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ. Khoản hỗ trợ tiền thuê đất này được Nhà nước hoàn trả cho chủ đầu tư theo quy định của Chính phủ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức giảm tiền thuê lại đất quy định tại khoản này.”
Bên cạnh đó, theo Điều 8, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn được ưu tiên thuê nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng hoặc không sử dụng tại địa phương, nhằm tận dụng hiệu quả nguồn lực công đang bỏ trống. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quy định danh mục tài sản, mức hỗ trợ và công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử – một bước tiến lớn về tính minh bạch và tiếp cận thông tin.
Điều 8 Nghị quyết 198/2025/QH15: Hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công
“1. Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thuê nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng hoặc không sử dụng tại địa phương.
2. Chính phủ quy định nguyên tắc, đối tượng hỗ trợ tại khoản 1 Điều này.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định về danh mục tài sản công cho thuê, tiêu chí, mức hỗ trợ, hình thức hỗ trợ, trình tự, thủ tục cho thuê đối với từng loại tài sản và thực hiện công bố công khai trên trang thông tin điện tử của địa phương.”
Cuối cùng, không thể không nhắc đến Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa được thiết lập theo Điều 9 của Nghị quyết. Đây sẽ là kênh cung cấp vốn ưu đãi, vốn đầu tư ban đầu cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo và xây dựng vườn ươm. Quỹ còn tham gia đầu tư vào các quỹ địa phương và tư nhân, mở rộng nguồn cung vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngoài ra, Quỹ được phép tiếp nhận các nguồn tài trợ, viện trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tạo ra cơ chế tài chính đa dạng và linh hoạt cho doanh nghiệp.
Điều 9 Nghị quyết 198/2025/QH15: Hỗ trợ tài chính, tín dụng
“1. Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
2. Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện các chức năng sau đây:
a) Cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
b) Cho vay khởi nghiệp;
c) Tài trợ vốn ban đầu cho các dự án khởi nghiệp sáng tạo, dự án xây dựng vườn ươm;
d) Đầu tư vào các quỹ đầu tư địa phương, quỹ đầu tư tư nhân để tăng nguồn cung vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;
đ) Tiếp nhận và quản lý nguồn vốn vay, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.”
2. Tác động và kết luận
Như vậy, với 06 nhóm chính sách ưu đãi toàn diện từ thuế, đất đai, tín dụng đến công nghệ và đấu thầu công, Nghị quyết 198/2025/QH15 không chỉ tháo gỡ các nút thắt pháp lý và tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn kiến tạo hệ sinh thái phát triển bền vững cho khu vực doanh nghiệp tư nhân. Trong dài hạn, đây chính là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tăng trưởng xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
3. Tổng đài tư vấn pháp luật qua điện thoại
Nếu quý khách hàng còn có thắc mắc hay câu hỏi nào cần được tư vấn từ luật sư. Quý khách vui lòng liên hệ vào số Hotline 0978 333 379 để được luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn!







